Những “mánh khóe” đầu tiên
Những món trang sức mẹ cho làm lóe lên một ý tưởng trong đầu tôi. Tại thủ đô Bangkok, đoạn từ đường Lat Ya đến vòng xoay Wong Wien Yai có rất nhiều hiệu cầm đồ. Trước mỗi cửa hiệu đều dán thông báo về những món đồ đã đáo hạn như đồng hồ, nhẫn kim cương, nhẫn vàng, dây chuyền vàng…
Với số tiền mẹ cho và số tiền vay được của vợ chồng bác Heang, tôi đến các hiệu cầm đồ mua lại những món đồ trang sức đã đáo hạn với giá phải chăng. Tôi làm sạch chúng theo đúng lời khuyên của một thợ kim hoàn để trông chúng sáng sủa, bắt mắt hơn. Rồi tôi giấu tất cả trang sức vào các ngóc ngách trong va li quần áo, không quên lấy chiếc áo đồng phục của trường đại học phủ lên trên để cảm thấy an tâm hơn. Vì là lưu học sinh đi phép trở về nên tôi không phải là đối tượng chú ý của nhân viên hải quan cửa khẩu. Các nhân viên hải quan chỉ hỏi tôi mỗi câu: “Đang học ở đây à?” rồi cho tôi qua cửa mà chẳng khám xét gì.
Từ đó, tôi bắt đầu làm người buôn bán những đồ trang sức từ Thái Lan. Khách hàng chủ yếu là các học sinh nữ và người thân của họ. Mẹ của một học sinh nữ rất thân với tôi thích các món đồ này đến mức tạm ứng cho tôi 100 ngàn đôla Đài Loan để lấy cho bà một bộ trang sức từ Thái Lan khi tôi về Thái Lan lần tới. Biết chuyện, cậu bạn Chitrakorn nói đùa rằng: “Với phi vụ này, có khi cậu không chỉ lãi bằng tiền mà có khi còn lãi cả cô con gái của bà ấy”.
Công việc này không ngờ ngay từ lúc khởi động đã khá suôn sẻ và thu nhập rất khá. Hàng hóa tôi mang sang bán chạy như tôm tươi, một số chiếc nhẫn tôi mua ở Thái Lan giá chỉ vài trăm baht cũng bán rất được giá tại Đài Loan. Chẳng mấy chốc tôi đã có trong tay gần 10 ngàn baht, không chỉ giúp tôi giải quyết những bài toán tiền nong mà quan trọng hơn là vun đắp trong tôi lòng tự tin trong chặng đường phía trước.
Một vấn đề nan giải mà tôi phải đương đầu khi bị bố cắt đứt quan hệ, không chu cấp nữa chính là tiền học phí - đó là khoản tiền lớn đối với tôi! Tôi chưa biết sẽ vay mượn ở đâu: họ hàng thì chẳng mấy ai có thể giúp đỡ, trừ bác Heang thì đã giúp tôi hết khả năng rồi. Trước tình cảnh đó, đầu óc tôi không ngừng suy nghĩ tìm lối thoát. Cuối cùng, khi ngồi ăn cơm tại một quán ăn cạnh nhà trường với một học sinh người Canada - từng được cấp học bổng của chính phủ Đài Loan, tôi đã nảy ra một kế hoạch. Khi hỏi kỹ người bạn ấy về việc xin học bổng, tôi biết cần thỏa mãn ba điều kiện: học giỏi, cam kết sau khi học xong phải về nước giúp ích cho Tổ quốc, có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Nếu hội đủ ba điều kiện trên thì liên hệ với Bộ Giáo dục Đài Loan để thực hiện thủ tục.
Xét ba điều kiện này thì điều kiện thứ hai không thành vấn đề vì tôi cũng có ý định học xong sẽ về nước làm việc, dù không được làm việc cho bố nữa. Còn điều kiện thứ ba, tuy gia đình không nghèo khó nhưng bản thân tôi lúc này không những nghèo khó mà còn cù bất cù bơ nữa, chẳng biết nương tựa vào ai. Như vậy vấn đề chỉ còn ở điều kiện đầu tiên, vì kết quả học tập của tôi chỉ xếp vào loại trung bình khá của khoa với điểm trung bình gần 80%, chưa được coi là giỏi, nhưng cũng là cơ sở tốt để vươn lên.
Dù còn băn khoăn về việc có đáp ứng các điều kiện để nhận học bổng nhưng vì đã rơi vào đường cùng nên tôi quyết “một liều ba bảy cũng liều”, bởi chẳng có gì để mất và cũng không thể khoanh tay phó mặc cho số phận.
Tôi và cậu bạn thân Chitrakorn khi học năm thứ hai đại học tại Đài Loan
Người giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc xin học bổng là Chitrakorn - cậu bạn thân quê ở tỉnh biên giới Nong Khai - giáp ranh với Lào. Chitrakorn học tiếng Hoa từ nhỏ nên rất thành thạo các kỹ năng viết lách, đặc biệt cậu ta viết chữ rất đẹp. Từ những lời lẽ thống thiết của tôi, Chitrakorn viết thành lá đơn xin cấp học bổng như sau: “Gia đình tôi nghèo khó, bố tôi là nông dân, có đến hơn 10 đứa con. Tôi có cơ hội sang Đài Loan học là nhờ sự tài trợ của Hội Nông dân trồng mía tỉnh Kanchanaburi. Do tình hình kinh tế khó khăn nên Hội không còn tiếp tục tài trợ học phí cho tôi nữa (chi tiết này do tôi bịa ra). Nếu không có học bổng thì có lẽ tương lai của tôi chấm dứt tại đây, không đạt được kỳ vọng của dòng họ và toàn thể nông dân của một tỉnh lẻ. Thật sự, tôi rất mong muốn được tiếp tục học tập, đem kiến thức và kỹ thuật tiên tiến của Đài Loan về áp dụng tại tỉnh Kanchanaburi, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho toàn thể nông dân, thợ vườn của tỉnh”.
Chitrakorn phải sửa đi sửa lại nhiều lần lá đơn sao cho câu văn thật trau chuốt, lôi cuốn, làm rung động các vị trong hội đồng xét cấp học bổng đến mức họ có thể châm chước, không quá coi trọng kết quả học tập của tôi khi xét duyệt.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ hồ sơ xin học bổng, tôi tìm cách tiếp xúc với các quan chức của Bộ Giáo dục Đài Loan để trực tiếp trình bày hoàn cảnh của mình, cũng như cho họ thấy tôi là một học sinh có kỷ luật, có quyết tâm học tập, nếu không nhận được sự giúp đỡ kịp thời thì sẽ bị đứt gãy đường học vấn. Có lẽ bộ dạng nghèo khổ, túng thiếu của tôi đã phần nào khiến họ cảm thông.
Cuối cùng, chưa đến hai tháng sau, tôi may mắn được chính phủ Đài Loan cấp học bổng. Vậy là từ năm thứ hai đại học, tôi được miễn tiền học phí, tiền ăn ở, chi phí khám chữa bệnh. Ngoài ra, mỗi tháng tôi còn được cấp tiền tiêu vặt 3.000 đôla Đài Loan, tương đương 1.500 baht. Như vậy tôi đã vượt qua được cuộc khủng hoảng tài chính một cách tốt đẹp và nhanh chóng đến mức khó tin. Để đánh dấu thắng lợi này, tôi chiêu đãi Chitrakorn và người bạn Canada một bữa no nê tại quán ăn gần trường.
Đầu năm 1972, việc buôn bán trang sức của tôi vẫn tiếp tục với sự trợ giúp của anh Krung - chủ cửa hàng trang sức Sawang ở Bangkok. Anh cung cấp cho tôi các loại nhẫn, bông tai, vòng đeo tay, dây chuyền… chất lượng tốt, hình thức đẹp, giá cả hữu nghị. Công việc này cùng với việc được nhận học bổng giúp tôi phần nào ổn định cuộc sống, song tôi vẫn chưa thật yên tâm về tương lai của mình, nhất là sau khi tốt nghiệp. Vì vậy, tôi bắt đầu tìm kiếm cơ hội buôn bán để tích lũy vốn cho chặng đường phía trước. Tôi liên hệ xin các tờ rơi giới thiệu hàng hóa và bảng giá sản phẩm của các công ty xuất khẩu hàng hóa Đài Loan. Những dịp cuối tuần có triển lãm sản phẩm tại Đài Bắc, tôi đều tham gia để tìm hiểu xem Thái Lan có những sản phẩm gì mà Đài Loan quan tâm và ngược lại. Vào giai đoạn ấy, Thái Lan chưa phải là nơi sản xuất nhiều sản phẩm như bây giờ, mà là nước nhập khẩu phần lớn hàng hóa do các nước khác sản xuất.
Kỳ nghỉ học kỳ kéo dài khoảng hai tháng năm đó, tôi trở về Thái Lan, tìm đến các cửa hàng ở Bangkok, tự giới thiệu mình là lưu học sinh tại Đài Loan và mong muốn kiếm thêm thu nhập bằng việc mua bán hàng hóa. Nghe tôi trình bày xong, có chủ cửa hàng từ chối thẳng thừng, có người không nói gì, cũng có vài người tỏ ý quan tâm, đặc biệt là vợ chồng ông Arun Saengsawangwattana và bà Benjamas - chủ cửa hàng bán dụng cụ đi rừng. Họ đã đặt mua nhiều loại hàng hóa, kể cả mũ bảo hộ lao động. Cũng cần nói thêm, sau này, bà Benjamas nhắc lại rằng khi lần đầu tôi đến cửa hàng của ông bà vào một ngày tháng 4 năm 1972, phong thái niềm nở, thân mật của tôi khiến bà có cảm giác như quen biết tôi từ trước. Quan hệ làm ăn của tôi với ông Arun rất tốt đẹp và dài lâu. Ông Arun còn truyền cho tôi nhiều kinh nghiệm buôn bán và xem tôi như người thân.
Kết thúc kỳ nghỉ, tôi trở lại Đài Loan, bắt đầu liên hệ các cơ sở làm ăn với công cụ chính là cuốn danh bạ điện thoại. “Văn phòng” của tôi không ở đâu xa xôi mà chính là phòng số 309, lầu 3, ký túc xá số 13 của Đại học Quốc gia Đài Loan, nơi tôi đang theo học. Thiết bị văn phòng chỉ có duy nhất một máy đánh chữ tiếng Thái Lan, hiệu Olympia, mà tôi mua với giá 3.500 baht. Còn điện thoại thì dùng điện thoại công cộng trước ký túc xá. Vì chi phí điện thoại khá cao nên tôi phải tìm mánh khóe để tiết kiệm. Tôi lấy một sợi dây kim loại nhỏ đút vào khe bỏ đồng xu và tha hồ gọi điện. Song, “cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra”, chẳng bao lâu sau, các sinh viên cùng ký túc xá phát hiện ra “chiêu trò” của tôi và… bắt chước làm theo, khiến số tiền cước điện thoại thu được ở buồng điện thoại đó bị sụt giảm hẳn, có hôm chẳng có xu nào! Cuối cùng, công ty điện thoại quyết định thay máy điện thoại kiểu mới.
“Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, tôi chuyển sang dùng máy điện thoại công cộng ở chỗ khác với mánh khóe còn tinh vi hơn: lấy sợi chỉ cột vào đồng xu, cho đồng xu vào khe máy, giữ sợi chỉ trong suốt thời gian thực hiện cuộc gọi (với cách này tôi có thể nói thoải mái bao lâu tùy thích vì không bị ngắt quãng hay báo hiệu hết giờ), khi kết thúc cuộc gọi, tôi chỉ việc kéo sợi chỉ, lấy lại đồng xu. Như vậy, chỉ với một đồng xu, tôi có thể gọi điện thoại quanh năm. Có lẽ vào thời điểm đó, tôi là sinh viên - kiêm doanh nhân - lạm dụng nhiều nhất công quỹ nhà nước để tư lợi cho bản thân.
Sau quá trình chuẩn bị, công việc làm đại diện cho các công ty Thái Lan mua phụ tùng máy móc tại Đài Loan của tôi bắt đầu vào guồng, đó cũng là lúc tôi đang học năm hai đại học. Tôi nhận được nhiều đơn đặt hàng mua phụ tùng điện thoại, radio, máy bơm nước, dây thép gai, mũ bảo hộ… từ các cửa hàng, công ty ở Bangkok, Thái Lan. Không chỉ nhập hàng từ Đài Loan về Thái Lan, tôi còn làm trung gian bán các sản phẩm của Thái Lan như da trâu, da bò, bột sắn cho các công ty Đài Loan. Thấu hiểu nỗi vất vả trong từng đồng tiền kiếm được nên tôi chi tiêu rất dè sẻn. Sau một thời gian, tôi đã có trong tay hơn 40 ngàn đôla Đài Loan. Song, vì phải dành nhiều thời gian bươn chải làm ăn, trong khi áp lực bài vở ở trường lại ngày càng tăng nên kết quả học tập của tôi chưa cải thiện bao nhiêu.
Như vậy, sau biến cố lớn trong quan hệ với bố, tôi đã biến cuộc khủng hoảng của bản thân thành cơ hội vàng: săn được học bổng, kiếm được số tiền làm vốn liếng cho tương lai. Tôi cũng rất vui khi ngay cả trong lúc túng thiếu nhất, tôi vẫn không bán số trang sức mẹ cho, cũng chưa bao giờ đi cầm đồ hay vay tiền bạn học. Vài năm sau, tôi mang trả mẹ toàn bộ số trang sức ấy.
Chuẩn bị tương lai
Khi hạ quyết tâm không dính líu đến gia đình nữa, từ năm thứ hai tại trường Đại học Quốc gia Đài Loan, tôi quyết định xin chuyển ngành học, từ khoa Kỹ thuật nông nghiệp sang khoa Cơ khí, ngành Máy động lực. Tôi cũng chẳng còn ý định trở về nước sau khi tốt nghiệp mà dự định học tiếp thạc sĩ rồi kiếm sống lâu dài ở nước ngoài.
Tôi phải đến thuyết phục cả hai khoa Kỹ thuật nông nghiệp và khoa Cơ khí để họ thông cảm cho quyết định chuyển đổi này của tôi. L•• do tôi đưa ra là ngành cơ khí cũng đang rất cần thiết cho sự phát triển công nghiệp của Thái Lan; nếu học ngành này, tôi sẽ có cơ hội để đóng góp nhiều hơn cho đất nước. May mà kết quả học tập của tôi cũng tương đối khá nên sau một thời gian thuyết phục các chủ nhiệm khoa, tôi được chuyển sang khoa Cơ khí, ngành Máy động lực. Đây là việc hiếm có, vì không dễ gì được tuyển vào ngành Máy động lực. Hằng năm có hàng ngàn thí sinh dự thi nhưng chỉ tiêu ngành chỉ có 50. Vì vậy, các sinh viên trúng tuyển rất nỗ lực học tập. Không khí học tập “khí thế” đến mức khiến tôi bị cuốn theo. Hễ rảnh lúc nào là tôi lại vào thư viện “cày bừa” với sách vở. Nếu không có kết quả học tập tốt, tôi sẽ bị cắt học bổng và vô số khó khăn sẽ ập đến. Đây cũng là giai đoạn tiếp thu tri thức hiệu quả nhất trong đời tôi. Trong giai đoạn này, tôi cũng được rèn luyện nhiều về đức tính kiên trì, chịu khó, kỷ luật, biết tự quản lý bản thân, quản lý thời gian sao cho hiệu quả nhất. Tôi tận dụng từng phút từng giây để trang bị cho bản thân từ kiến thức đến kỹ năng để sẵn sàng đơn độc đương đầu với tương lai.
Mỗi khi có đoàn nông dân Thái Lan sang thăm Đài Loan, tôi thường được mời đi làm phiên dịch. Có lần tôi lén lấy giống mía của Đài Loan đưa cho các nông dân Thái Lan. Mỗi khi thấy ở Đài Loan có giống cây mới (dưa hấu không hột, bí đỏ, nhiều loại rau mà Thái Lan chưa trồng bao giờ), tôi hay bỏ tiền túi tìm mua và gửi cho Bộ Nông nghiệp Thái Lan.
Đại học Quốc gia Đài Loan không chỉ nổi tiếng về chất lượng đào tạo mà còn được biết đến với nhiều hoạt động thể thao lớn. Ngoài chăm chỉ học tập chuyên môn, tôi còn tích cực tham gia đều đặn các hoạt động thể thao như cử tạ, kéo co, nhảy cao, bóng đá, bóng rổ, ném lao, bơi lội, ném đĩa… Phần thưởng tôi nhận về không chỉ là những tấm huy chương, những lần được trường khen thưởng mà quan trọng hơn là một sức khỏe tốt và tinh thần thoải mái.
Tôi còn làm hạt nhân của cộng đồng lưu học sinh Thái Lan trong các hoạt động bên ngoài nhà trường như triển lãm giới thiệu hàng hóa của Thái Lan, các chương trình biểu diễn nghệ thuật… Khi Hội sinh viên Thái Lan tại Đài Loan thành lập, tôi được bầu làm chủ tịch lâm thời.
Vào năm 1973, Thái Lan bất ổn chính trị. Học sinh Thái Lan trong nước tuần hành đòi lật đổ chính quyền độc tài quân sự Thanom Kittikachorn, dẫn đến cuộc đàn áp đẫm máu ngày 14/10/1973. Sau đó có tin đô đốc Praphas Charusathien (một thành viên của chế độ Thanom Kittikachorn) trốn sang Đài Loan, khiến cho phong trào sinh viên Thái Lan tại Đài Loan nổi lên.
Ngay sau khi nghe tin này trên đài phát thanh, tôi và một người bạn nữa lái xe máy đi quan sát khu nghỉ mát Tien Mu trên một ngọn đồi. Một hôm, chúng tôi phát hiện Praphas Charusathien và đoàn tùy tùng ở đó. Chúng tôi lên kế hoạch tổ chức cuộc biểu tình với hàng ngàn người kéo đến Đại sứ quán Thái Lan ở Đài Bắc (Đài Loan) để phản đối chính quyền Đài Loan chứa chấp Praphas và đồng bọn. Nhưng thông tin này bị rò rỉ, chính quyền Đài Loan cử người đại diện đến yêu cầu chúng tôi ngừng tổ chức biểu tình vì lúc đó Đài Loan đang trong thời kỳ tuyên bố tình trạng khẩn cấp do quan hệ cẳng thẳng với Trung Quốc. Trong khi đó, quan hệ giữa Đài Loan và chính quyền Thái Lan đang rất tốt đẹp về mọi mặt. Chúng tôi thương lượng với chính quyền là sẽ không tuần hành nhưng sẽ tập trung tại trước cửa Đại sứ quán Thái Lan.
Đến ngày đã định, gần 1.000 học sinh, sinh viên Thái Lan tại Đài Loan kéo nhau đi theo con đường Nung An hướng tới đại sứ quán Thái Lan. Các cửa hiệu, nhà dân dọc hai bên đường đều đóng cửa kín mít. Lực lượng cảnh sát, quân đội với súng ống trong tay được bố trí dày đặc. Tin tức loan đi rằng các học sinh sinh viên Thái Lan tại Đài Loan đang định chiếm Đại sứ quán Thái Lan.
Không khí rất căng thẳng. Trong số học sinh sinh viên Thái tại Đài Loan cũng có một số người thuộc loại ngang tàng, thích gây gổ, dễ bị kích động. Chúng tôi bắt đầu lo ngại rằng nếu không kiểm soát được tình hình thì có thể có bạo động. Tôi bàn bạc với các bạn, thống nhất là phải kiềm chế, không để có những hành động quá khích. Chúng tôi đang là học sinh ở đất khách quê người, không nên để mọi việc vượt quá sự kiểm soát.
Cuối cùng, chính quyền Đài Loan cử người đến thương lượng, đồng ý cho chúng tôi tập trung trong trật tự và bất bạo động trước cửa Đại sứ quán Thái Lan. Họ sẽ không để lực lượng cảnh sát, quân đội can thiệp chừng nào chúng tôi chưa quá khích. Chúng tôi đồng ý với thương lượng đó.
Chúng tôi tập hợp trước cửa Đại sứ quán, và bạn Rung - đại diện cho tất cả học sinh sinh viên - đọc bản tuyên bố bày tỏ lập trường và sự quan ngại của chúng tôi trước tình hình trong nước, trước sự chứng kiến của ông đại sứ Thái Lan và toàn thể nhân viên sứ quán. Sau đó, đoàn biểu tình giải tán trong trật tự. Nghĩ lại, nếu lúc đó chúng tôi hăng máu, biểu tình rầm rộ, có hành động quá khích, thậm chí vào chiếm sứ quán rồi bị quân đội và cảnh sát Đài Loan đàn áp... như đã xảy ra trong cuộc đàn áp tại Bangkok thì không biết bi kịch gì sẽ xảy ra.
Thời kỳ đó, Đài Loan có khoảng 8.000 lưu học sinh Thái Lan, riêng Đại học Quốc gia Đài Loan có khoảng 70 sinh viên Thái. Vì tôi tính tình cởi mở, quan hệ rộng, tích cực hoạt động thể thao, đạo đức tốt và học khá, nên phần lớn cộng đồng lưu học sinh Thái Lan biết tôi. Khi những người bạn của bố mẹ tôi ở tỉnh Kanchanaburi gửi con em của họ sang Đài Loan học tập, tôi đã nhiệt tình giúp đỡ họ về mọi mặt, kể cả quản lý tài chính cho họ. Những tin tức tốt đẹp về tôi nhanh chóng lan truyền đến tai bố mẹ tôi ở quê nhà, khiến mẹ tôi không cầm lòng được nữa. Mẹ sang Đài Loan thăm tôi.
Tôi vẫn còn nhớ như in nụ cười của mẹ khi gặp lại tôi nơi xứ người. Đó là nụ cười hân hoan hội ngộ và chứa đựng cả sự hãnh diện vì sự trưởng thành của tôi. Sau đó người bạn thân của bố là chú Chue cũng thường sang Đài Loan và lần nào cũng ghé thăm tôi. Mỗi lần vậy, tôi lại làm “hướng dẫn viên du lịch” cho chú, còn chú thì không ngừng bảo bố tôi đã mềm dịu hơn rất nhiều và khuyên tôi nên quay về nhà. Nhưng lúc đó mọi tâm trí của tôi đều dồn vào việc học xong đại học rồi học tiếp thạc sĩ chứ không hề muốn quay về gia đình ở Kanchanaburi - nơi những rắc rối chưa bao giờ dừng lại bởi thói trăng hoa mãn tính của bố.
Cái giá của niềm tin
Khi công việc kinh doanh mở rộng, tôi phải chuyển khỏi ký túc xá, đi thuê nhà bên ngoài để có chỗ chứa hàng hóa. Tôi thuê chung ngôi nhà này với 3-4 người nữa. Ngôi nhà nằm trong hẻm, cách trường khoảng 15 phút đi xe máy, có phòng khách, nhà vệ sinh. Lúc đó, tôi có mua một chiếc xe máy Suzuki đã qua sử dụng, nhập khẩu từ Nhật, trị giá 48.000 đôla Đài Loan, thuộc loại đắt tiền so với xe máy nội địa của Đài Loan.
Chủ nhà tên là Chen Lei, tỏ ra nhiệt tình, chu đáo nên tôi cũng đáp lại bằng sự tôn trọng, tin cậy.
Khi tôi thuê nhà được khoảng hai tháng, một buổi tối Chen Lei nói với tôi rằng anh ta đang cần gấp một khoản tiền. Anh đưa cho tôi xem cuốn sổ tiết kiệm của anh để chứng minh số tiền anh gửi ngân hàng và nhờ tôi cho anh ta mượn chiếc xe máy mang đi cầm tạm để vay nóng số tiền đó, rồi ngày mai anh ta sẽ trả lại tiền để chuộc xe. Vốn tin người và hay giúp đỡ những ai gặp hoạn nạn nên tôi đồng ý ngay. Tôi đem chiếc xe máy đi cầm được 25.000 đô la Đài Loan về đưa cho Chen Lei. Sáng hôm sau, trước khi đi học, tôi còn nhắc anh ta chuẩn bị sẵn tiền để buổi chiều đi chuộc lại chiếc xe cho tôi. Anh ta vui vẻ bảo tôi cứ yên tâm nên tôi cũng không lo lắng hay hoài nghi gì.
Thế nhưng, khi tôi về nhà vào buổi chiều thì không thấy tăm hơi Chen Lei đâu. Đồ đạc trong phòng của anh ta cũng biến mất. Tôi bàng hoàng, bủn rủn chân tay khi biết mình bị lừa, Chen Lei là tay nghiện cờ bạc có hạng. Bao nhiêu niềm tin và tình bạn bỗng nhiên biến mất, chỉ còn lại sự căm giận và tức tối. Tôi tự trách mình tin người mù quáng, đã nghèo mà còn bị lừa, đúng là chó cắn áo rách. Tôi vội đi trình báo ở đồn cảnh sát cạnh nhà và chạy vạy tiền đi chuộc lại chiếc xe. Sau đó, tôi còn biết Chen Lei không phải chủ ngôi nhà đó mà cũng chỉ là người đi thuê rồi cho tôi thuê lại. Thêm nữa, tên thật của hắn là Chen An Min. Việc quá tin vào bạn bè khiến tôi nhiều lần bị quỵt tiền, dù chỉ vài ngàn baht nhưng đối với tôi đó không phải là số tiền phải đổi bằng mồ hôi nước mắt.
Ngoài chuyện bị Chen Lei lừa gạt, còn một chuyện khác khiến tôi rất buồn vào thời điểm ấy: thi trượt môn máy động lực. Thật ra đây không phải là môn khó, và nguyên nhân tôi trượt môn này có lẽ xuất phát từ việc tôi và thầy Chen Ji Win - người dạy môn học này - không ưa nhau. Thầy Chen ngoài 60 tuổi, đầu hói, chuyên mặc bộ com-lê đen, đội mũ phớt như Tây, trông rất lịch sự. Khi dạy, thầy thao thao bất tuyệt, cứ như mọi kiến thức từ trong đầu thầy tuôn ra. Nhưng kỳ thực là thầy giấu tờ ghi chép vào mũ phớt, khi bỏ mũ ra thì thầy đồng thời rút tờ giấy đặt lên bàn rồi đọc suốt buổi. Tất cả các bạn trong lớp đều nhìn thấy điều này, còn những kiến thức thầy cung cấp thì đều là sao chép từ giáo trình của Mỹ.
Hành động có phần thiếu trung thực của thầy khiến tôi không còn thích thú với môn máy động lực, dù đó là môn học chính của ngành. Kết quả thi của tôi chỉ có 36 điểm, so với điểm tối thiểu phải đạt là 60 điểm. Lúc đầu, tôi khó chịu, bực mình đến mức… học cách mở chìa khóa các phòng, “rắp tâm” đột nhập vào phòng thầy Chen để sửa lại điểm bài thi của mình. Nhưng sau đó tôi từ bỏ ý định sai lầm này, tự trách mình đã có định kiến không tốt với thầy và đành phải đăng ký học lại môn ấy.
Sự cố đó khiến điểm trung bình các môn của tôi bị tụt xuống mức thấp nhất từ trước đến nay. Tôi buồn rầu, mất ăn mất ngủ suốt vài tuần vì lo sợ bị cắt học bổng thì chỉ có nước đi ăn mày! Song, thật may mắn là Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn tiếp tục cấp học bổng cho tôi.
Sau nhiều lần cân nhắc, tôi xác định con đường tương lai an toàn và ít vất vả nhất cho mình là cố gắng làm việc để tích lũy tiền đi học thạc sĩ. Phải học lên thì tôi mới có khả năng tiến xa trong ngành công nghiệp cơ khí - vốn dĩ đang đầy rẫy người có bằng cử nhân. Vì có “gen làm ông chủ” từ nhỏ nên tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm thuê cho một công ty nào đó và nhận lương hằng tháng, mà luôn nghĩ rằng chỉ cần kinh doanh trong vòng 3-5 năm là tôi sẽ kiếm đủ tiền học thạc sĩ.
Tôi khi là sinh viên năm 4
Đến kỳ nghỉ hè của năm cuối đại học, tôi về nước lập công ty, đặt “trụ sở” tại nhà bác Heang ở Bangkok.
Suốt kỳ nghỉ, tôi đi xe buýt, đi phà, đi bộ đến các khu vực buôn bán sầm uất của Bangkok như Patumwan, vòng xoay Odeon, Sam Yot, Phahurat… để tìm cơ hội kinh doanh. Đến cửa hiệu nào tôi cũng mạnh dạn tự giới thiệu bản thân, đưa danh thiếp, trao đổi với chủ.
Về lại nhà bác Heang sau một ngày rong ruổi, tôi dùng chiếc máy đánh chữ Olympia đánh máy thư từ liên hệ, tờ chào giá hàng và dùng điện thoại nhà của bác để liên lạc. Dù biết đang làm phiền bác nhưng tôi không có chọn lựa nào khác bởi bác là chỗ dựa duy nhất của tôi lúc này. Tôi thấy mình thật diễm phúc khi được bác thông cảm, sẵn sàng giúp đỡ mà không than phiền điều gì.
Kết thúc kỳ nghỉ, tôi quay lại Đài Loan và làm thêm việc nhập khẩu các sản phẩm từ Thái Lan vào Đài Loan như da trâu, da bò, bột sắn. Bên cạnh đó, tôi vẫn không ngừng tìm kiếm các cơ hội khác. Tôi để ý thấy có nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp thường vứt lại xe đạp. Vì vậy, hàng trăm chiếc xe đạp cũ chất thành đống ngổn ngang trước cửa ký túc xá, bãi đỗ xe của trường, và khiến bộ phận quản trị trường phải vất vả xử lý. Tôi và anh bạn Chitrakorn liền nảy ra ý định “làm giàu” từ đống phế liệu ấy.
Tranh thủ buổi tối và giờ nghỉ trong ngày, chúng tôi chọn những chiếc xe còn dùng được, tháo các phụ tùng còn tốt rồi mang chúng đi làm sạch, cạo rỉ, quét sơn, tra dầu mỡ, rồi lắp thành xe đạp mới. “Xưởng sản xuất” của chúng tôi là khu vực trống của lớp học hoặc nhà vệ sinh. Với tôi, công việc này vừa thư giãn đầu óc, vừa vận động chân tay, lại có thu nhập.
Sau khi tân trang các xe đạp cũ, chúng tôi lấy giấy bọc lại, gắn ký hiệu tên của hai đứa chúng tôi vào xe rồi viết thông báo treo trước cổng nhà trường: “Bán xe đạp giá 300 đôla Đài Loan/chiếc (150 baht). Ai quan tâm xin liên hệ phòng 309, nhà số 13, ký túc xá sinh viên”. Kết quả thật đáng mừng: các xe đạp tân trang bán chạy như tôm tươi. Riêng phần tôi bán được hơn 20 chiếc, không những vui vì có tiền, tôi còn thấy hãnh diện mỗi khi nhìn thấy bạn bè sử dụng những chiếc xe đạp do chính tay mình “giải phẫu thẩm mỹ”. Cuối cùng, tôi và Chitrakorn đã thu dọn sạch sẽ đống xe đạp cũ bị vứt la liệt trong trường.
Về công việc kinh doanh, có một dạo tôi làm đại lý nhập đồ trang sức bằng đá quý cho công ty đá quý Chi Chi - do anh Chin Tun Yen, cựu sinh viên lớp đàn anh của tôi -làm giám đốc. Ngoài nhập hàng, tôi còn tham gia thiết kế các kiểu trang sức mới như đem hột xoàn gắn vào cẩm thạch - loại trang sức đang được các cô gái Đài Loan ưa chuộng lúc đó. Tình hình bán sản phẩm này khả quan đến mức công ty Chi Chi đặt mua ở chỗ tôi hàng tấn đá cẩm thạch có nguồn gốc từ tỉnh Kanchanaburi.
Khi có thời gian rảnh rỗi, ngoài giờ học và làm thêm, tôi và Chitrakorn hay rủ nhau đến vui chơi ở phố Si Men Ting, nơi tụ tập của các thanh niên Đài Bắc. Chúng tôi ráng tỏ ra là dân thời thượng để gây chú ý với đám thanh niên bản xứ và nhất là các cô gái Đài Loan. Lúc đầu, tôi để tóc dài, khác với nhiều thanh niên Đài Loan. Thời đó cảnh sát Đài Loan hay đi tuần tra để giữ trật tự an ninh, họ sẵn sàng bắt các thanh niên để tóc quá dài phải vào hiệu cắt ngắn đi. Riêng tôi và Chitrakorn là sinh viên nước ngoài nên thoát khỏi sự lùng soát này. Cùng với kiểu tóc dài “khác người”, tôi mặc áo thun thủng lỗ để khoe cơ bắp, quần jean thời thượng với gấu quần tẽ ra, khâu chỉ màu hai bên; đeo dây chuyền bản to với mặt dây chuyền hình Phật. Cứ thế tôi đi trên phố, ngâm nga bài hát “Dòng sông vàng” (Yellow River) đang được thanh niên Đài Loan rất ưa chuộng.
Nguồn : http://maxreading.com/sach-hay/nghiet-nga-va-thanh-cong/ky-7-nhung-manh-khoe-dau-tien-40624.html
Xem toàn bộ cuốn sách : NGHIỆT NGÃ VÀ THÀNH CÔNG TẠI LINK GỐC SAU :
http://maxreading.com/sach-hay/nghiet-nga-va-thanh-cong
| 1. | 0.47k | |
| 2. | 0.16k | |
| 3. | 0.19k | |
| 4. | 0.14k | |
| 5. | 0.11k | |
| 6. | 0.11k | |
| 7. | 1k | |
| 8. | 0.15k | |
| 9. | 0.13k | |
| 10. | 0.12k | |
| 11. | 0.10k | |
| 12. | 0.11k | |
| 13. |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét